| Táo bơm |
| Vườn Táo |
| Táo bơm |
| Vườn Táo |

Từ ngày 23- 24 tháng 6 năm 2011, tại hội trường của khách sạn Tre Xanh Plaza, Tp Pleiku tỉnh Gia Lai, Ban điều phối dự án hỗ trợ nông nghiệp, nông dân và nông thôn tỉnh Gia Lai đã tổ chức hội thảo khởi động dự án.![]() |
Các thành viên tham gia Hội thảo |
![]() |
| Những hình ảnh trong hội thảo" Kỹ năng và công cụ chia sẻ tri thức" |
![]() |
| Tập huấn khảo sát đầu kỳ |
![]() |
| Trẻ em Raglay huyện Bác Ái |
![]() |
Cán bộ dự án điều tra thông tin đồng bào RagLay
huyện Bác Ái
|
| Đoàn MTR đến làm việc tại xã Thái Học |
| Đàn lợn nhà anh Quyên trưởng nhóm sở thích xóm Lũng ỉn, xã Thái Học. |
| Sản phẩm Miến dong - Phia Đén - Huyện Nguyên Bình - Cao Bằng |
| Vùng trồng dong, cơ sở chế biến thủ công và sân phơi miến |
| Chị Tào ở Phia Đén - Nguyên Bình - Cao Bằng -đang đóng gói sản phẩm |
(Hội nghị thử nếm thịt bò Mông Cao Bằng tại siêu thị BigC Hà Nội)
NÂNG CAO GIÁ TRỊ THỊT BÒ MÔNG
Được sự quan tâm của UBND tỉnh, Trung tâm nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp (CAS - RAD- Bộ NN- PTNT), Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn tỉnh Cao Bằng (DBRP Cao Bằng) phối hợp với các ban, ngành, các nhà tài trợ quốc tế, đã tiến hành nghiên cứu gia tăng chuỗi giá trị bò Mông Cao Bằng, tại 22 xã vùng bò, nơi nuôi quy mô nhỏ là 1-2 con/hộ, trung bình là 1,5-2 con/hộ, nhiều là 2,5-3 con/hộ.
Nhằm đáp ứng đòi hỏi bắt buộc đó của thị trường, cũng như đòi hỏi về phát triển bền vững vùng ngành hàng thịt bò Mông Cao Bằng đặc sản truyền thông, CASRAD đã từng bước tổ chức sẳn xuất bò Mông. Hai năm đầu tiên 2007-2009 thành lập thử nghiệm 4 nhóm sở thích, có 3 nhóm hoạt động có hiệu quả, 1 nhóm không hiệu quả, và 100% các nhóm đều thuộc dân tộc Nùng. Hai năm 2009-2011, rút kinh nghiệm nhân rộng ra 83 nhóm sở thích và chọn ra 23 nhóm làm tốt nhất hầu hết là hộ đồng bào dân tộc Mông, tham gia Hội chăn nuôi bò Mông Cao Bằng.
Chị Hoàng Thị Loan, ở tổ 21 phường Sông Bằng thị xã Cao Bằng đầu tiên nuôi lợn, sau chuyển sang nuôi bò Mông vì có thu nhập lớn hơn. Ban đầu vay vốn 20 triệu đồng dành cho người nghèo, thế chấp sổ đỏ thêm 70 triệu đồng, mua được 10 con bò đực ở các huyện Thông Nông, Hà Quảng, Trùng Khánh. Anh Lý Văn Sầu, 41 tuổi, thôn Lũng Hoài, xã Hạ Thôn, huyện Hà Quảng, cho biết toàn bộ 40 hộ trong thôn đều nuôi bò, trong đó có 25 hộ nằm trong dự án, tất cả 150 hộ trong xã đều là người Mông và cũng đều nuôi bò. Riêng hộ anh lúc nào cũng có các lứa bò gối đầu, anh Sầu nói: "Mỗi năm tôi đều bán 4 lứa, mỗi lứa 2 con, phần lớn bò trên 450kg, trung bình lãi 2 triệu/con. Bà con rất phấn khởi tham gia vào Hội, vì bán bò không cần giấy chứng nhận của xã, bán bò tại xa, không mất công đi bộ, dắt đi dắt về". Ngày 29/07/2011 UBND tỉnh Cao Bằng đã ra quyết định thành lập Hội chăn nuôi và têu thụ bò Mông Cao Bằng, gồm 423 hộ nông dân trong 23 nhóm sở thích, Cty Lê Thanh, Cty Rural Food và một số thành viên khác.
Trước đó, từ năm 2009, CASRAD đã xây dựng kênh phân phối thử nghiệm thông qua 3 công ty Ecomark, Hà An và VinaGAP ở Hà Nội, nhận thấy giá trị tăng thêm qua tác nhân phân phối cuối cùng và người dân, cụ thể giá trị tăng thêm trên 1kg thịt 30-40% ở khâu tiêu thụ cuối cùng. Giá trị lợi nhuận thực của các nhóm sở thích là 15.000 - 20.000 đồng/kg thịt, trong khi nông dân ngoài nhóm sở thích chỉ tăng thêm được 5-7%/kg thịt. Thực tế nguồn nguyên liệu bò thịt Mông đầu ra đảm bảo chất lượng, có giá trị tăng thêm rõ rệt đã có sức thuyết phục, thu hút sự quan tâm của một số công ty tham gia đầu tư xây dựng phát triển chuỗi giá trị. Cty Lê Thanh (thị xã Cao Bằng) tham gia với vai trò là nhà thu gom bò thịt, giết mổ và phân phối thịt bò. Doanh nghiệp đã xây dựng lò mổ hiện nay đạt công suất 30-60 con/ngày đêm, đầu tư xe lạnh, kho lạnh, mua bò của dân với giá thị trường từng thời điểm và thêm 200.000 đồng/con bò. Cty Rural Food tại Hà Nội, xây dựng hệ thống phân phối, quản lý và giám sát các điểm thịt bò cho Hội. Thạc sỹ Hoàng Xuân Trường, trưởng nhóm nghiên cứu và tư vấn phát triển chuỗi giá trị bò Mông Cao Bằng đánh giá:"Giá trị sản phẩm đã được thử nghiệm là có được lợi nhuận cao, đã thu hút doanh nghiệp đầu tư vào cùng phát triển chuỗi giá trị. Mô hình tổ chức nông dân dưới dạng Hội chăn nuôi và tiêu thụ bò thịt là điều kiện cần phải có và phù hợp với chuỗi giá trị bò Mông Cao Bằng. Đương nhiện cần tiếp tục xây dựng hệ thống giám sát và quản lý chất lượng sản phẩm thông qua việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, từng bước vững chắc phát triển thành viên là trang trại, doanh nghiệp nuôi bò Mông".
Ông Đàm Văn Eng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng, khẳng định tác động quan trọng mang tính quyết định của dự án và vai trò của CASRAD đã góp phần quan trọng xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập của người nghèo, nhất là bà con dân tộc Mông khó khăn thiếu thốn.
Ông nói: "Từ nay thịt bò Mông Cao Bằng đã khẳng định được chỗ đứng trên thương trường, thị trường, cũng như khai thác được tối đa về sinh thái và các cây, con đặc trung của miền núi. Từ kết quả tốt đẹp này, tình quyết định xây dựng chương trình bảo vệ đàn trâu bò, 4 năm tới sẽ chi 100 tỉ đồng vào việc tẩy giun sán cho trâu bò, mở mang đồng cỏ, trồng cỏ, dự trữ cỏ cho mùa đông".
Nhà báo Trần Lê
Thưa quý vị và các bạn! Từ bao đời nay, bò đã trở thành vật nuôi quen thuộc của đồng bào vùng cao. Thông qua hoạt động chăn nuôi, đồng bào đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm cũng như kiến thức chăn nuôi, đóng vai trò quan trọng trong đời sống và sản xuất và phát triển chăn nuôi của đồng bào. Cùng với việc tăng cường thúc đẩy áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển chăn nuôi, dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo đã đặc biệt quan tâm tới kiến thức, kinh nghiệm chăn nuôi bản địa của đồng bào để phổ biến kinh nghiệm cho nhiều vùng cùng phát triển, nhất là ngành hàng bò. Chương trình tuần này chúng tôi xin gửi tới quý vị và các bạn chương trình về một số kinh nghiệm chăn nuôi bò của đồng bào dân tộc vùng cao Lục Khu Hà Quảng.
Theo các chuyên gia, người dân tộc ở miền núi có hệ thống kiến thức, kinh nghiệm chăn nuôi bản địa rất phong phú, thực sự là nguồn lực quan trọng giúp cho sự phát triển chăn nuôi của nhóm sở thích chăn nuôi các vùng dự án cũng như sự phát triển cho các địa phương khác. Không những thế, hệ thống kiến thức, kinh nghiệm chăn nuôi của đồng bào vùng cao Lục Khu còn góp phần trong việc duy trì và bảo tồn giá trị nguồn gien, đa dạng sinh học địa phương. Do vùng cao núi đá khô cằn, vì vậy, trong tất cả các hoạt động từ cuộc sống tới sản xuất, chăn nuôi của người Nùng và người Mông Lục Khu đều gắn bó bền chặt với các đặc điểm ấy. Đa phần bà con đều chăn nuôi có quy mô nhỏ theo hướng tận dụng sức kéo và chăn nuôi bò thịt quảng canh, nuôi từ 2-4 con để sử dụng sức kéo và tận dụng phế phụ phẩm nông sản và tận dụng nguồn lao động phụ trong gia đình. Tuy mhiên nhiều hộ cũng đã chú trọng và chăn nuôi nhiều từ 6-12 con/hộ, một số hộ nuôi từ 25-30 con/hộ. Cũng từ điều kiện tự nhiên khó khăn của vùng cao, đồng bào đã biết tận dụng, phát huy lợi thế thâm canh là nuôi bò vỗ béo, đem lại hiệu quả kinh tế cao gấp nhiều lần từ sản xuất nông nghiệp.
Đã từ lâu mọi người và đặc biệt là các lái thương bò biết đến Lũng Dán xã Hồng Sỹ là địa phương lúc nào cũng có số lượng bò bán ra thị trường và có những con bò đẹp nhất. Hộ anh Lầu văn Thành-xóm Lũng Dán có hẳn một dãy chuồng bò dài, được quét dọn sạch sẽ và lúc nào trong chuồng cũng có sẵn từ 10-13 con vừa nuôi nhốt, vừa chăn thả. Anh cho biết, ngoài trồng trên 2000m2 nương rẫy ngô, thời gian còn lại anh chủ yếu tập trung nuôi bò. Do từ thủa bé được làm quen với con bò nên anh có rất nhiều kiến thức cũng như kinh nghiệm từ lựa chọn bò cái, bò làm sức kéo và bò vỗ béo. Đặc biệt do khả năng và kinh nghiệm tích lũy lâu dài anh dễ dàng nhận biết đâu là bò đẹp có khả năng lớn và có giá thành để trao đổi, mua bán, tăng thu nhập. Tuy có nhiều kinh nghiệm như vậy nhưng theo anh để phát triển bền vững, cần tập trung phát triển bò vỗ béo và để có được con bò vỗ béo tốt, cần lựa chọn những còn bò có đặc điểm sau.
PV: Lầu văn Thành-Xóm Lũng Dán, xã Hồng Sỹ( để chọn nuôi bò vỗ béo có khả năng béo nhanh, cần chọn con có khung to, đều, không quá gầy và già, da mỏng, lông đồng mầu. Tốt nhất là bò trong độ 2-3 tuổi, đã thay răng. Đặc biệt bò phải được nuôi nhốt, chuồng trại được quét dọn sạch sẽ, thoáng mát mùa hè, ấm cúng mùa đông).
Cũng theo anh, điều tối kỵ trong bò nhốt là không được chọn bò ốm, có bệnh chậm lớn.
PV: Lầu văn Thành-Xóm Lũng Dán, xã HỒng Sỹ.( Bò ốm rất dễ nhận biết, thứ nhất mắt ướt và thứ 2 là tai lạnh và đặc biệt là khi đi mua bò cần chú ý dắt bò quay vòng tròn vài lần, nếu con nào không quay hoặc quay khó là đã có bệnh trong thân).
Còn nuôi thế nào cho bò nhanh béo, khoẻ, chất lượng thịt ngon, người Mông LŨng Dán chủ yếu sử dụng phương pháp truyền thống.
PV: Lầu văn Thành-Xóm Lũng Dán, xã Hồng Sỹ.( Bình thường bò mua về cần được nhốt riêng tránh vai chạm với bò nhà, 2 tháng đầu tăng cường cho ăn đầy đủ cỏ non, thân ngô, cỏ voi và thỉnh thoảng cho ăn kèm một ít cháo bột ngô. Bắt đầu từ tháng thứ 3 cần tăng khẩu phần ăn bằng lượng cháo bột ngô, đặc biệt là bột ngô ủ men rượu với tỷ lệ một bát/ngày đều đặn cho tới khi bán thì bò sẽ béo và có thể xuất chuồng nhanh, giảm thời gian đầu tư).
Còn đối với dân tộc Nùng thì kinh nghiệm chăn nuôi cơ bản giống dân tộc Mông, nhưng sau khi mua về, ngoài khẩu phần cỏ xanh, người Nùng tăng cường lượng tinh bột ngay từ đầu bằng nấu cháo loãng như cháo lợn cho bò ăn để bò béo nhanh, rút ngắn thời gian nuôi nhốt.
PV: Nông Văn Tảo - xóm Lũng Đá, xã Hồng Sỹ .
Tuy nhiên cũng theo các hộ có kinh nghiệm nuôi bò thì để phát triên chăn nuôi thì vấn đề cỏ và tăng cường diện tích trồng cỏ là yếu tố quan trọng đảm bảo kết quả chăn nuôi. Bên cạnh đó cũng cần quan tâm đến chuồng trại và máng ăn hợp lý, khẩu phần ăn đầy đủ các loại cho từng con. Nhờ những kiến thức chăn nuôi như vậy, nhiều hộ đã liên tục có bò xuất chuồng, đem lại thu nhập cao cho gia đình. Riêng hộ gia đình anh Lầu văn Thành, xóm lũng Dán từ đầu năm đến giờ anh đã bán gần 10 con bò vỗ béo, trung bình mỗi con anh lãi từ 2-5 triệu đồng/con. Không chỉ có vậy, ngoài bò vỗ béo, cộng cả bò thu gom, chăm sóc rồi bán anh đã xuất được trên 60 con, thu nhập trên 30 triệu đồng, hơn hẳn nghề nông khác. Anh cho biết sẽ tiếp tục học hỏi thêm kinh nghiệm từ KHKT và xác định đây là nghề chính.
Cũng theo kinh nghiệm đồng bào Lục Khu thì để có những con bò đẹp, khoẻ không thể chỉ tìm mua ở chợ mà gia đình cần tự chăn nuôi để những con bò cái đẹp, có khả năng sinh sản nhiều con. Anh Lý văn Vàng xã Hỗng Sỹ là một trong những hộ có nhiều kinh nghiệm nuôi bò cái.
PV: Lý văn Vàng-xóm Lũng Dán, xã Hồng Sỹ.( Muốn có bò cái đẹp, có nhiều con cần chọn con bò cái cao, to đều, khung xương hông rộng, núm vú đều và dài, ham ăn. Thường thì phải để ý lựa chọn bò cái ngay ngay trong đàn từ nhỏ hoặc phải đi chợ lựa chọn kỹ mới có. Bò cái đẹp là con có mầu lông đều, vàng hoặc nâu, tránh bò đốm. Trong quá trình tạo giống cần chọn kỹ con đựa vì đây là yếu tố đảm bảo kết quả, phải có con giống đẹp thì mới có được bò con đẹp).
Với địa hình nương rẫy núi đá, bò được coi là con vật gắn bó mật thiết với đời sống sản xuất của người vùng cao nhất. Vì chỉ có bò mới có thể lách lưỡi cày nhỏ lọt qua các khe đá để cày xới trồng ngô. Đồng bào vùng cao cũng rất chú trọng và có rất nhiều kinh nghiệm lựa chọn chăn nuôi bò cày như sau:
PV: Mạc Quang Dùng-Xóm Khâu Xớ, xã Sỹ Hai.
Trên đây là một số kinh nghiệm chăn nuôi bò xin chia sẻ của đồng bào vùng Lục Khu. Hy vọng những kiến thức, kinh nghiệm bản địa này sẽ giúp các hộ chăn nuôi bò hoặc đang dự định chăn nuôi sẽ thành công và đem lại hiệu quả cao nhất./.
Đam Ly- Phóng viên đài TH Cao Bằng
![]() |
| Làm việc với Dự án IMPP Hà Tĩnh |



Mặc dù mới làm quen nhưng nhóm làm việc rất hiệu quả. Buổi hội thảo đầu tiên chúng tôi thấy rất là thích (Mr Hương). Chúng tôi rất vui khi được làm quen với mọi người, rất mong nhận được sự chia sẻ của các bạn, đặc biệt là anh Bằng và BTC. Hy vọng rằng trong thời gian sắp đến sẽ học được nhiều điều thú vị nữa.
Xin thông báo với mọi người về nhóm chúng tôi tại buổi hội thảo Knowledge Sharing

Chào các bạn,
Bạn có thể đăng bài mà không cần đăng nhập vào blog, chỉ cần viết email và gửi đến một địa chỉ chọn sẵn. Tôi sẽ rất vui hướng dẫn cụ thể cho bạn tại Hội thảo.
Bằng