Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

Ninh Thuận triển khai kế hoạch khảo sát phát triển chuỗi giá trị vì người nghèo

Ban Điều phối dự án Hỗ trợ Tam Nông tỉnh Ninh Thuận

Từ ngày 13/12 đến 31/12/2011 Ban Điều phối dự án Hỗ trợ Tam Nông tỉnh Ninh Thuận (TNSP-Ninh Thuận) phối hợp cùng Tổ chuyên đề về chuỗi giá trị và tư vấn đến từ Viện nghiên cứu phát triển Đồng bằng sông Cửu Long triển khai kế hoạch khảo sát phát triển chuỗi giá trị vì người nghèo. Theo đó sẽ điều tra, phân tích, xác định và sắp xếp thứ tự ưu tiên cho 06 chuỗi giá trị có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh cho 06 huyện vùng dự án.

       Bước đầu thực hiện khảo sát chuỗi giá trị Táo trên địa bàn huyện Ninh Phước, Ninh Hải và thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, trong đó tập trung khảo sát các đối tượng là người trồng Táo, người cung cấp cây giống, các đại lý cung cấp vật tư đầu vào, người buôn bán sỉ và lẻ, thương lái trong và ngoài tỉnh.
     Tất cả các thông tin liên quan như: Tổng diện tích đất trồng Táo, kĩ thuật trồng, sự đa dạng về giống, năng suất, chi phí, tiếp cận thị trường, nguồn vốn, hỗ trợ từ Nhà nước, giá cả, đầu ra của sản phẩm … và các kiến nghị, giải pháp đối với chính sách ảnh hưởng đến quá trình phát triển chuỗi giá trị Táo tại Ninh Thuận sẽ được khai thác nhằm xây dựng một cẩm nang hướng dẫn thực hiện để phát triển chuỗi giá trị. 

Táo bơm
       Táo là cây ăn quả dễ canh tác, phù hợp với điều kiện tự nhiên ở Ninh Thuận, là cây trồng tạo thu nhập, giảm nghèo cho bà con nông dân vùng dự án, giống Táo tại Ninh Thuận chủ yếu là Táo lê, Táo bơm đặt tính trái to, chất lượng trái thơm ngọt rất được ưu chuộng trên thị trường, ở Ninh Thuận bà con trồng táo giống như trồng Nho, cho leo dàn, cắt cành để kích thích ra hoa, đa phần người trồng Táo ở Ninh Thuận là những người trồng Nho chuyển sang nên trình độ canh tác và kĩ thuật rất cao.

 
Vườn Táo
       Với chiến lược phát triển 06 chuỗi giá trị tại 06 huyện trên toàn tỉnh, dự án hỗ trợ Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn tỉnh Ninh Thuận sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp thông tin về sản phẩm, nghiên cứu thị trường tiêu thụ, quảng bá sản phẩm, hỗ trợ kĩ thuật và hỗ trợ các nguồn lực cần thiết khác cho các đối tượng hưởng lợi vùng dự án và qua đó sẽ tạo động lực phát triển kinh tế xã hội địa phương, thực hiện chính sách giảm nghèo đạt hiệu quả.

Trường Hân

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

DỰ ÁN TAM NÔNG TẠI GIA LAI




Từ ngày 23- 24 tháng 6 năm 2011, tại hội trường của khách sạn Tre Xanh Plaza, Tp Pleiku tỉnh Gia Lai, Ban điều phối dự án hỗ trợ nông nghiệp, nông dân và nông thôn tỉnh Gia Lai đã tổ chức hội thảo khởi động dự án.

Đến dự hội thảo cố đông đảo đại biểu đến từ các Sở, Ban, Ngành, Uỷ ban nhân dân các huyện, xã dự án. Đặc biệt đến dự buổi hội thảo có bà Atsuko Toda, đại diện Quỹ hỗ trợ phát triển nông nghiệp thế giới (IFAD) tại Việt Nam, bà Nguyễn Thu Hoài và ông Phan Duy Toàn, cán bộ Văn phòng IFAD tại Việt Nam.



Tại hội thảo, Ban điều phối dự án đã báo cáo 2 cuốn sổ tay: Sổ tay hướng dẫn thực hiện (PIM) và Sổ tay quản lý tài chính (FMM) dự án hỗ trợ nông nghiệp, nông dân và nông thôn tỉnh Gia Lai. Ban điều phối đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ các Đại biểu, đặc biệt là bà Atsuko Toda và cán bộ Văn phòng IFAD.
Hội thảo đã thành công tốt đẹp và được bà Atsuko Toda đánh giá rất cao.











































































































































































































































































































































Thứ Tư, 5 tháng 10, 2011

Hội thảo chia sẻ tri thức: 

 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU PHỐI HIỆU QUẢ



           Từ 26/9 – 1/10/2011, Trung tâm phát triển nông nghiệp, nông thôn (RUDEC)  tổ chức hai hội thảo về quản lý tri thức tại khách sạn Thắng Lợi, thành phố Hà Nội với sự tham gia của cán bộ đến từ các viện nghiên cứu và cán bộ KMO của các dự án do IFAD tài trợ.

Các thành viên tham gia Hội thảo
Trong hôi thảo “Kỹ năng và công cụ chia sẻ tri thức” người điều phối và các đại biểu đã cùng nhau chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm bằng các kỹ năng làm việc nhóm, Work ca fé, chat show…Các công cụ giúp thu thập, chia sẻ tri thức như: blog, wiki và Flickr... Qua chương trình hội thảo các đại biểu cũng đã học tập những kinh nghiệm, sự tự tin trong thiết kế và điều phối các hội thảo các cuộc họp và tổ chức các sự kiện, áp dụng các phương pháp và công cụ đã tiếp thu được từ hội thảo để áp dụng vào trong các công việc của dự án.

Những hình ảnh trong hội thảo" Kỹ năng và công cụ chia sẻ tri thức"
              Cũng với phương pháp gợi mở, thúc đẩy các đại biểu cùng tham gia, ngày 29/9-1/10, người điều phối chương trình đã chia sẻ “Kỹ năng viết giúp chia sẻ tri thức hiệu quả” với các nội dung phương pháp viết như thế nào? Cách sử dụng các công cụ tư duy, phân tích đối tượng đọc, phương pháp tóm lược chính sách và cách biên tập, giúp cho các thành viên của hội thảo có kỹ năng và phương pháp để viết được nhưng tin bài hay có chất lượng và đúng mục đich.
 Qua hai hội thảo, với phương pháp tổ chức mới hết sức thân thiện, cởi mở khiến cho các đại biểu đều cảm thấy rất vui vì đã tiếp thu rất hiệu quả những kiến thức mà người điều phối chương trình và các thành viên cùng chia sẻ khi tham gia. Phát biểu cảm nghĩ của mình về hội thảo, chị Thẩm Thị Loan dự án DPRM Cao Bằng nói “ Đây là hội thảo rất thành công, người điều phối chương trình đã tạo ra cho các thành viên tham gia được cùng chia sẻ kiến thức và phát huy sức sang tạo cuả mỗi cá nhân tham dự hội thảo”
                                                                                                                            Thanh Giang

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

CẢM NHẬN TỪ HỘI THẢO



Lời đầu tiên Hữu Trí xin kính chúc tất cả các anh các chị và toàn thể các bạn lời chúc sức khoẻ, thành công trong công việc và hạnh phúc.
Trí lấy chủ đề là "cảm nhận từ hội thảo" vì theo Trí và với Trí thì Hội thảo rất tốt và rất có ý nghĩa với Trí. Trí phải nói nhiều "very and very, too and too" mới diễn tả hết ý nghĩa của Hội thảo với mình. Thật sự mình chưa biết đến các công cụ chia sẻ như: Wiki. blog, youtube, chat show và ....rồi viết thế nào cho hay để chia sẻ... Lần này thì mình đã biết và sử dụng được các công cụ đó, vấn đề ở chỗ là mình làm thế nào để sử dụng nó hiệu quả và chia sẻ thành công. Mình sẽ cố gắng.
Trí xin gởi lời cảm ơn chân thành đến anh Vũ Bằng, chị Việt Hà, anh Lâm, Mr Thông, BTC (RUDEC) và toàn thể các Quý vị đại biểu. Cảm ơn vì đã chia sẻ.
Thân

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2011


Dự án Hỗ trợ Tam Nông tỉnh Ninh Thuận thực hiện khảo sát đánh giá tác động đầu kỳ 2011
Trường Hân
Tập huấn khảo sát đầu kỳ
Thực hiện Kế hoạch công tác và ngân sách năm 2011, từ ngày 25/8 đến ngày 15/9 Ban Điều phối Dự án Hỗ trợ Tam nông (TNSP) tỉnh Ninh Thuận đã phối hợp với Trung tâm nghiên cứu chính sách và phát triển (DEPOCEN) tổ chức tập huấn về khảo sát đánh giá tác động RIMS, trong đó đặc biệt chú trọng về phương pháp khảo sát, kỹ năng điều tra và phân tích kết quả đợt khảo sát. Tham gia lớp tập huấn có 68 Điều tra viên đến từ các Sở ban ngành và UBND các huyện, xã.

Trẻ em Raglay huyện Bác Ái

Đợt khảo sát này đã thực hiện điều tra 1200 hộ gia đình trên địa bàn 6 huyện Ninh Sơn, Bác Ái, Thuận Nam, Ninh Hải, Ninh Phước và Thuận Nam, trong đó có 900 hộ thuộc 27 xã vùng dự án và 300 hộ thuộc 10 xã ngoài vùng dự án, chủ yếu tập trung điều tra các thông tin liên quan đến: Đặc điểm và thông tin chung về hộ gia đình, sở hữu tài sản, đất đai, sản xuất cây trồng, chăn nuôi và thủy sản, dịch vụ khuyến nông, tiếp cận thị trường, hoạt động phi nông nghiệp, an ninh lương thực, tiếp cận dịch vụ tài chính, sự hiểu biết về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, rủi ro và tổn thương đối với các loại thiên tai, cân đo trẻ em từ 01->59 tháng tuổi, đo tọa độ GPS.

Sau khi kết thúc đợt khảo sát cán bộ Ban Điều phối dự án tỉnh tiếp tục soát xét các phiếu bảng hỏi, đồng thời điều tra bổ sung, xác nhận lại một vài thông tin của một số phiếu chưa đạt yêu cầu chất lượng, đây là phần việc quan trọng nhằm chuẩn bị cho công tác nhập và phân tích dữ liệu cũng như làm cơ sở cho việc đánh giá tác động của dự án vào cuối kỳ.

Vì đây là dự án chủ yếu cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số nên ý thức trách nhiệm của các Điều tra viên rất cao và nhiệt tình.


Mặc dù có nhiều khó khăn do các đơn vị cấp xã, huyện chưa được thành lập nhưng đợt khảo sát đã được triển khai thành công tốt đẹp.

Cán bộ dự án điều tra thông tin đồng bào RagLay huyện Bác Ái




DBRP cùng với sự đổi thay của người Dao Thái Học

Thái Học là xã đặc biệt khó khăn huyện Nguyên Bình. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, Thái Học được nhiều chương trình dự án đầu tư, trong đó sự hỗ trợ của dự án DBRP đã góp phần tạo nên sự đổi thay cuộc sống của người Dao đỏ nơi đây. 


Đoàn MTR đến làm việc tại xã Thái Học
Đàn lợn nhà anh Quyên trưởng nhóm sở thích xóm Lũng ỉn, xã Thái Học.
Đến với Thái Học, chúng tôi được chứng kiến cuộc sống đang dần đổi mới của người Dao đỏ nơi đây, từ khi tham gia các hoạt động dự án. Ông Bàn Dào Phin, Trưởng ban phát triển xã phấn khởi chia sẻ với chúng tôi: Nhờ có hỗ trợ của dự án DBRP mà xã đã kéo được đường điện cho 5 xóm và làm đường giao thông cho 3 xóm. Có điện nhà nào cũng có tivi để xem, có máy sát ngô, máy thái rau. Có đường lớn đến xóm, người dân đi lại dễ dàng, đi chợ bán nông sản đã có xe máy chuyên chở thay thế đôi vai. Cán bộ xã được tham gia các lớp tập huấn, biết sử dụng máy vi tính, cách thành lập và quản lý nhóm. Còn người dân tham gia vào nhóm sở thích, đã có 6 nhóm được thành lập và thực sự mang nhiều lợi ích cho người nghèo. Để minh chứng cho điều này, ông Phin dẫn chúng tôi đến thăm nhóm sở thích chăn nuôi lợn đen Lũng Ỉn. Anh Đặng Văn Quyên trưởng nhóm cho biết: nhóm có 28 thành viên, được thành lập tháng 6 năm 2009. Bản thân anh được tham gia các lớp tập huấn về thành lập và quản lý nhóm; lập kế hoạch sản xuất và kinh doanh cho hộ và nhóm; hội thảo về các tác nhân ngành hàng. Thành viên nhóm được tham gia 3 lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi lợn và họ đã áp dụng vào chăn nuôi, lợn chóng lớn hơn, thời gian nuôi giảm từ 25 tháng xuống còn 18 tháng để có lợn năng  khoảng 50- 60kg. Trước đây bình quân mỗi hộ nuôi từ 3-5 con, bán 2-3 con/hộ/năm, thu nhập khoảng 3-4 triệu. Năm 2010 trung bình mỗi hộ bán khoảng 7 đến 8 con, thu nhập từ 15 – 18 triệu, cá biệt có hộ bán ra thị trường 18 – 20 con. Ở đây thu nhập chính của các hộ là từ chăn nuôi. Hộ nào cũng biết chăm sóc lợn đúng kỹ thuật, phòng bệnh bằng văc xin. Mỗi hộ góp 2000 đồng/tháng để mua thuốc thú y dự trữ, lợn ốm được điều trị kịp thời, tỷ lệ chết giảm hẳn. Mỗi tháng nhóm sinh hoạt một lần, cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm chăn nuôi, trồng trọt, giá cả thị trường. Việc tiêu thụ sản phẩm thuận lợi hơn khi cả nhóm cùng bán chung sản phẩm, thương lái đến thu mua tại thôn, không bị ép giá, nên hộ nào cũng tăng số lượng nuôi. Đa số các hộ tự nuôi lợn nái để chủ động con giống. Trong kế hoạch hoạt động và sản xuất kinh doanh năm 2011, nhóm dự kiến bán ra thị trường khoảng 120 con, có thể nhiều hơn. Tuy nhiên, để hỗ trợ người dân có điều kiện phát triển chăn nuôi với quy mô lớn hơn, bà con mong muốn được vay vốn với lãi suất thấp, tiếp tục được tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật mới về chăn nuôi, cách quản lý hoạt động theo nhóm, được thăm quan học tập và chia sẻ kinh nghiệm chăn nuôi trong và ngoài tỉnh. Điều mong đợi nhất là được dự án hỗ trợ làm đường giao thông đến xóm để tạo điều kiện cho nhóm thuận lợi trong tiêu thụ sản phẩm.
Chúng tôi rời Thái Học với tâm trạng rất vui, vì thực sự các hoạt động dự án đã góp phần cải thiện cuộc sống người Dao đỏ nơi đây dần thoát khỏi cái nghèo một cách bền vững.
                                                                                       
 Nguyễn Thị Huệ - DBRP Cao Bằng

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2011

Miến dong Cao Bằng



Miến dong một sản phẩm giúp người nông dân Cao Bằng tăng thu nhập

Sản phẩm Miến dong - Phia Đén - Huyện Nguyên Bình - Cao Bằng
Phia Đén, xã Thành Công huyện Nguyên Bình, là địa phương có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thích hợp cho phát triển cây dong giềng đẻ sản xuất miến dong, một đặc sản nổi tiếng của Cao Bằng. Với sự hỗ trợ từ dự án DBRP sản phẩm miến dong đang được phát triển thành hàng hoá và tăng thu nhập cho người nghèo nơi đây. 
Vùng trồng dong, cơ sở chế biến thủ công và sân phơi miến
Đến cuối năm 2011, diện tích cây dong giềng xã Thành Công đạt trên 72 ha, riêng Phia Đén có 20 ha, sản lượng thu hoạch khoảng 1000 tấn. Theo bà con cho biết, giống mới được trồng trên 70% diện tích và có năng suất cao gấp 1,5 giống cũ, chất lượng bột tốt. Dong giềng được trồng từ tháng 2 và thu hoạch tháng 10, do biết kết hợp kinh nghiệm lâu năm với áp dụng kỹ thuật trong sản xuất, trung bình sản lượng củ thu được 70-80 tấn/ha, tương đương 7-8 tấn bột và sản xuất được từ 5,5 - 6 tấn miến thành phẩm. 
Chị Tào ở Phia Đén - Nguyên Bình - Cao Bằng -đang đóng gói sản phẩm
Với giá trung bình từ 50 nghìn đồng/kg thì thu nhập 250-300 triệu đồng/ha, là khoản thu nhập tốt cho người nghèo. Chị Trương Thị Tào chia sẻ với chúng tôi:"nhìn chung làm miến dong có thu nhập cao, mỗi 1 kg miến thành phẩm được lãi khoảng 20.000đ. Bà con ở đây có điều kiện để mở rộng diện tích, nhưng do còn nhiều khó khăn, khi thu hoạch cần nhiều nhân công, miến được sản xuất chủ yếu bằng phương pháp thủ công, chỉ vài hộ khá giả đầu tư mua được máy sát bột, cả xóm có 3 hộ có máy lọc bột. Khi phơi miến gặp mưa không kịp thu sẽ hỏng hết".
Mong muốn của chị là được dự án hỗ trợ mái che cho sân phơi miến. Miến dong Phia đén được làm từ bột dong nguyên chất, ngon và là đặc sản nổi tiếng của Nguyên Bình, sản phẩm được tiêu thụ dễ dàng và được thị trường đánh giá cao về chất lượng.

Nhằm hỗ trợ phát triển miến dong thành hàng hoá, dự án DBRP đã hỗ trợ thành lập nhóm sở thích sản xuất miến dong, mở các lớp tập huấn kỹ thuật cho thành viên nhóm, tạo điều kiện cho nhóm cơ hội tiếp cận thị trường, chia sẻ thông tin, tham gia hội chợ ngoài tỉnh giới thiệu sản phẩm. Đồng thời dự án DBRP đang hỗ trợ nhóm lập hồ sơ và cấp giấy chứng nhận cho các cơ sở kinh doanh, sản xuất miến và hướng dẫn đăng ký thương hiệu hàng hóa. Nhằm phát huy thế mạnh địa phương, hỗ trợ người nghèo có cơ hội tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo bền vững.




             

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011






(Hội nghị thử nếm thịt bò Mông Cao Bằng tại siêu thị BigC Hà Nội)



NÂNG CAO GIÁ TRỊ THỊT BÒ MÔNG

Được sự quan tâm của UBND tỉnh, Trung tâm nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp (CAS - RAD- Bộ NN- PTNT), Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo nông thôn tỉnh Cao Bằng (DBRP Cao Bằng) phối hợp với các ban, ngành, các nhà tài trợ quốc tế, đã tiến hành nghiên cứu gia tăng chuỗi giá trị bò Mông Cao Bằng, tại 22 xã vùng bò, nơi nuôi quy mô nhỏ là 1-2 con/hộ, trung bình là 1,5-2 con/hộ, nhiều là 2,5-3 con/hộ.

Nhằm đáp ứng đòi hỏi bắt buộc đó của thị trường, cũng như đòi hỏi về phát triển bền vững vùng ngành hàng thịt bò Mông Cao Bằng đặc sản truyền thông, CASRAD đã từng bước tổ chức sẳn xuất bò Mông. Hai năm đầu tiên 2007-2009 thành lập thử nghiệm 4 nhóm sở thích, có 3 nhóm hoạt động có hiệu quả, 1 nhóm không hiệu quả, và 100% các nhóm đều thuộc dân tộc Nùng. Hai năm 2009-2011, rút kinh nghiệm nhân rộng ra 83 nhóm sở thích và chọn ra 23 nhóm làm tốt nhất hầu hết là hộ đồng bào dân tộc Mông, tham gia Hội chăn nuôi bò Mông Cao Bằng.

Chị Hoàng Thị Loan, ở tổ 21 phường Sông Bằng thị xã Cao Bằng đầu tiên nuôi lợn, sau chuyển sang nuôi bò Mông vì có thu nhập lớn hơn. Ban đầu vay vốn 20 triệu đồng dành cho người nghèo, thế chấp sổ đỏ thêm 70 triệu đồng, mua được 10 con bò đực ở các huyện Thông Nông, Hà Quảng, Trùng Khánh. Anh Lý Văn Sầu, 41 tuổi, thôn Lũng Hoài, xã Hạ Thôn, huyện Hà Quảng, cho biết toàn bộ 40 hộ trong thôn đều nuôi bò, trong đó có 25 hộ nằm trong dự án, tất cả 150 hộ trong xã đều là người Mông và cũng đều nuôi bò. Riêng hộ anh lúc nào cũng có các lứa bò gối đầu, anh Sầu nói: "Mỗi năm tôi đều bán 4 lứa, mỗi lứa 2 con, phần lớn bò trên 450kg, trung bình lãi 2 triệu/con. Bà con rất phấn khởi tham gia vào Hội, vì bán bò không cần giấy chứng nhận của xã, bán bò tại xa, không mất công đi bộ, dắt đi dắt về". Ngày 29/07/2011 UBND tỉnh Cao Bằng đã ra quyết định thành lập Hội chăn nuôi và têu thụ bò Mông Cao Bằng, gồm 423 hộ nông dân trong 23 nhóm sở thích, Cty Lê Thanh, Cty Rural Food và một số thành viên khác.

Trước đó, từ năm 2009, CASRAD đã xây dựng kênh phân phối thử nghiệm thông qua 3 công ty Ecomark, Hà An và VinaGAP ở Hà Nội, nhận thấy giá trị tăng thêm qua tác nhân phân phối cuối cùng và người dân, cụ thể giá trị tăng thêm trên 1kg thịt 30-40% ở khâu tiêu thụ cuối cùng. Giá trị lợi nhuận thực của các nhóm sở thích là 15.000 - 20.000 đồng/kg thịt, trong khi nông dân ngoài nhóm sở thích chỉ tăng thêm được 5-7%/kg thịt. Thực tế nguồn nguyên liệu bò thịt Mông đầu ra đảm bảo chất lượng, có giá trị tăng thêm rõ rệt đã có sức thuyết phục, thu hút sự quan tâm của một số công ty tham gia đầu tư xây dựng phát triển chuỗi giá trị. Cty Lê Thanh (thị xã Cao Bằng) tham gia với vai trò là nhà thu gom bò thịt, giết mổ và phân phối thịt bò. Doanh nghiệp đã xây dựng lò mổ hiện nay đạt công suất 30-60 con/ngày đêm, đầu tư xe lạnh, kho lạnh, mua bò của dân với giá thị trường từng thời điểm và thêm 200.000 đồng/con bò. Cty Rural Food tại Hà Nội, xây dựng hệ thống phân phối, quản lý và giám sát các điểm thịt bò cho Hội. Thạc sỹ Hoàng Xuân Trường, trưởng nhóm nghiên cứu và tư vấn phát triển chuỗi giá trị bò Mông Cao Bằng đánh giá:"Giá trị sản phẩm đã được thử nghiệm là có được lợi nhuận cao, đã thu hút doanh nghiệp đầu tư vào cùng phát triển chuỗi giá trị. Mô hình tổ chức nông dân dưới dạng Hội chăn nuôi và tiêu thụ bò thịt là điều kiện cần phải có và phù hợp với chuỗi giá trị bò Mông Cao Bằng. Đương nhiện cần tiếp tục xây dựng hệ thống giám sát và quản lý chất lượng sản phẩm thông qua việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, từng bước vững chắc phát triển thành viên là trang trại, doanh nghiệp nuôi bò Mông".

Ông Đàm Văn Eng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng, khẳng định tác động quan trọng mang tính quyết định của dự án và vai trò của CASRAD đã góp phần quan trọng xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập của người nghèo, nhất là bà con dân tộc Mông khó khăn thiếu thốn.

Ông nói: "Từ nay thịt bò Mông Cao Bằng đã khẳng định được chỗ đứng trên thương trường, thị trường, cũng như khai thác được tối đa về sinh thái và các cây, con đặc trung của miền núi. Từ kết quả tốt đẹp này, tình quyết định xây dựng chương trình bảo vệ đàn trâu bò, 4 năm tới sẽ chi 100 tỉ đồng vào việc tẩy giun sán cho trâu bò, mở mang đồng cỏ, trồng cỏ, dự trữ cỏ cho mùa đông".

Nhà báo Trần Lê


PHÁT HUY KINH NGHIỆM BẢN ĐỊA TRONG CHĂN NUÔI BÒ CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC VÙNG LỤC KHU

Thưa quý vị và các bạn! Từ bao đời nay, bò đã trở thành vật nuôi quen thuộc của đồng bào vùng cao. Thông qua hoạt động chăn nuôi, đồng bào đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm cũng như kiến thức chăn nuôi, đóng vai trò quan trọng trong đời sống và sản xuất và phát triển chăn nuôi của đồng bào. Cùng với việc tăng cường thúc đẩy áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển chăn nuôi, dự án Phát triển kinh doanh với người nghèo đã đặc biệt quan tâm tới kiến thức, kinh nghiệm chăn nuôi bản địa của đồng bào để phổ biến kinh nghiệm cho nhiều vùng cùng phát triển, nhất là ngành hàng bò. Chương trình tuần này chúng tôi xin gửi tới quý vị và các bạn chương trình về một số kinh nghiệm chăn nuôi bò của đồng bào dân tộc vùng cao Lục Khu Hà Quảng.

Theo các chuyên gia, người dân tộc ở miền núi có hệ thống kiến thức, kinh nghiệm chăn nuôi bản địa rất phong phú, thực sự là nguồn lực quan trọng giúp cho sự phát triển chăn nuôi của nhóm sở thích chăn nuôi các vùng dự án cũng như sự phát triển cho các địa phương khác. Không những thế, hệ thống kiến thức, kinh nghiệm chăn nuôi của đồng bào vùng cao Lục Khu còn góp phần trong việc duy trì và bảo tồn giá trị nguồn gien, đa dạng sinh học địa phương. Do vùng cao núi đá khô cằn, vì vậy, trong tất cả các hoạt động từ cuộc sống tới sản xuất, chăn nuôi của người Nùng và người Mông Lục Khu đều gắn bó bền chặt với các đặc điểm ấy. Đa phần bà con đều chăn nuôi có quy mô nhỏ theo hướng tận dụng sức kéo và chăn nuôi bò thịt quảng canh, nuôi từ 2-4 con để sử dụng sức kéo và tận dụng phế phụ phẩm nông sản và tận dụng nguồn lao động phụ trong gia đình. Tuy mhiên nhiều hộ cũng đã chú trọng và chăn nuôi nhiều từ 6-12 con/hộ, một số hộ nuôi từ 25-30 con/hộ. Cũng từ điều kiện tự nhiên khó khăn của vùng cao, đồng bào đã biết tận dụng, phát huy lợi thế thâm canh là nuôi bò vỗ béo, đem lại hiệu quả kinh tế cao gấp nhiều lần từ sản xuất nông nghiệp.

Đã từ lâu mọi người và đặc biệt là các lái thương bò biết đến Lũng Dán xã Hồng Sỹ là địa phương lúc nào cũng có số lượng bò bán ra thị trường và có những con bò đẹp nhất. Hộ anh Lầu văn Thành-xóm Lũng Dán có hẳn một dãy chuồng bò dài, được quét dọn sạch sẽ và lúc nào trong chuồng cũng có sẵn từ 10-13 con vừa nuôi nhốt, vừa chăn thả. Anh cho biết, ngoài trồng trên 2000m2 nương rẫy ngô, thời gian còn lại anh chủ yếu tập trung nuôi bò. Do từ thủa bé được làm quen với con bò nên anh có rất nhiều kiến thức cũng như kinh nghiệm từ lựa chọn bò cái, bò làm sức kéo và bò vỗ béo. Đặc biệt do khả năng và kinh nghiệm tích lũy lâu dài anh dễ dàng nhận biết đâu là bò đẹp có khả năng lớn và có giá thành để trao đổi, mua bán, tăng thu nhập. Tuy có nhiều kinh nghiệm như vậy nhưng theo anh để phát triển bền vững, cần tập trung phát triển bò vỗ béo và để có được con bò vỗ béo tốt, cần lựa chọn những còn bò có đặc điểm sau.

PV: Lầu văn Thành-Xóm Lũng Dán, xã Hồng Sỹ( để chọn nuôi bò vỗ béo có khả năng béo nhanh, cần chọn con có khung to, đều, không quá gầy và già, da mỏng, lông đồng mầu. Tốt nhất là bò trong độ 2-3 tuổi, đã thay răng. Đặc biệt bò phải được nuôi nhốt, chuồng trại được quét dọn sạch sẽ, thoáng mát mùa hè, ấm cúng mùa đông).

Cũng theo anh, điều tối kỵ trong bò nhốt là không được chọn bò ốm, có bệnh chậm lớn.

PV: Lầu văn Thành-Xóm Lũng Dán, xã HỒng Sỹ.( Bò ốm rất dễ nhận biết, thứ nhất mắt ướt và thứ 2 là tai lạnh và đặc biệt là khi đi mua bò cần chú ý dắt bò quay vòng tròn vài lần, nếu con nào không quay hoặc quay khó là đã có bệnh trong thân).

Còn nuôi thế nào cho bò nhanh béo, khoẻ, chất lượng thịt ngon, người Mông LŨng Dán chủ yếu sử dụng phương pháp truyền thống.

PV: Lầu văn Thành-Xóm Lũng Dán, xã Hồng Sỹ.( Bình thường bò mua về cần được nhốt riêng tránh vai chạm với bò nhà, 2 tháng đầu tăng cường cho ăn đầy đủ cỏ non, thân ngô, cỏ voi và thỉnh thoảng cho ăn kèm một ít cháo bột ngô. Bắt đầu từ tháng thứ 3 cần tăng khẩu phần ăn bằng lượng cháo bột ngô, đặc biệt là bột ngô ủ men rượu với tỷ lệ một bát/ngày đều đặn cho tới khi bán thì bò sẽ béo và có thể xuất chuồng nhanh, giảm thời gian đầu tư).

Còn đối với dân tộc Nùng thì kinh nghiệm chăn nuôi cơ bản giống dân tộc Mông, nhưng sau khi mua về, ngoài khẩu phần cỏ xanh, người Nùng tăng cường lượng tinh bột ngay từ đầu bằng nấu cháo loãng như cháo lợn cho bò ăn để bò béo nhanh, rút ngắn thời gian nuôi nhốt.

PV: Nông Văn Tảo - xóm Lũng Đá, xã Hồng Sỹ .

Tuy nhiên cũng theo các hộ có kinh nghiệm nuôi bò thì để phát triên chăn nuôi thì vấn đề cỏ và tăng cường diện tích trồng cỏ là yếu tố quan trọng đảm bảo kết quả chăn nuôi. Bên cạnh đó cũng cần quan tâm đến chuồng trại và máng ăn hợp lý, khẩu phần ăn đầy đủ các loại cho từng con. Nhờ những kiến thức chăn nuôi như vậy, nhiều hộ đã liên tục có bò xuất chuồng, đem lại thu nhập cao cho gia đình. Riêng hộ gia đình anh Lầu văn Thành, xóm lũng Dán từ đầu năm đến giờ anh đã bán gần 10 con bò vỗ béo, trung bình mỗi con anh lãi từ 2-5 triệu đồng/con. Không chỉ có vậy, ngoài bò vỗ béo, cộng cả bò thu gom, chăm sóc rồi bán anh đã xuất được trên 60 con, thu nhập trên 30 triệu đồng, hơn hẳn nghề nông khác. Anh cho biết sẽ tiếp tục học hỏi thêm kinh nghiệm từ KHKT và xác định đây là nghề chính.

Cũng theo kinh nghiệm đồng bào Lục Khu thì để có những con bò đẹp, khoẻ không thể chỉ tìm mua ở chợ mà gia đình cần tự chăn nuôi để những con bò cái đẹp, có khả năng sinh sản nhiều con. Anh Lý văn Vàng xã Hỗng Sỹ là một trong những hộ có nhiều kinh nghiệm nuôi bò cái.

PV: Lý văn Vàng-xóm Lũng Dán, xã Hồng Sỹ.( Muốn có bò cái đẹp, có nhiều con cần chọn con bò cái cao, to đều, khung xương hông rộng, núm vú đều và dài, ham ăn. Thường thì phải để ý lựa chọn bò cái ngay ngay trong đàn từ nhỏ hoặc phải đi chợ lựa chọn kỹ mới có. Bò cái đẹp là con có mầu lông đều, vàng hoặc nâu, tránh bò đốm. Trong quá trình tạo giống cần chọn kỹ con đựa vì đây là yếu tố đảm bảo kết quả, phải có con giống đẹp thì mới có được bò con đẹp).

Với địa hình nương rẫy núi đá, bò được coi là con vật gắn bó mật thiết với đời sống sản xuất của người vùng cao nhất. Vì chỉ có bò mới có thể lách lưỡi cày nhỏ lọt qua các khe đá để cày xới trồng ngô. Đồng bào vùng cao cũng rất chú trọng và có rất nhiều kinh nghiệm lựa chọn chăn nuôi bò cày như sau:

PV: Mạc Quang Dùng-Xóm Khâu Xớ, xã Sỹ Hai.

Trên đây là một số kinh nghiệm chăn nuôi bò xin chia sẻ của đồng bào vùng Lục Khu. Hy vọng những kiến thức, kinh nghiệm bản địa này sẽ giúp các hộ chăn nuôi bò hoặc đang dự định chăn nuôi sẽ thành công và đem lại hiệu quả cao nhất./.

Đam Ly- Phóng viên đài TH Cao Bằng

Tham quan học tập MOP-SEDP tại Hà Tĩnh

Từ ngày 23 đến 26/8/2011, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với Ban điều phối Dự án hỗ trợ nông nghiệp, nông dân và nông thôn (TNSP) tỉnh Tuyên Quang tổ chức Đoàn cán bộ đến tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm về phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia theo định hướng thị trường (MOP-SEDP) tại tỉnh Hà Tĩnh.
Làm việc với Dự án IMPP Hà Tĩnh
Làm việc với Ban điều phối Dự án Cải thiện sự tham gia thị trường cho người nghèo (IMPP) Hà Tĩnh, Đoàn công tác đã được giới thiệu, thảo luận, trao đổi cởi mở về quy trình, phương pháp và các bước thực hiện MOP-SEDP cũng như việc phối hợp và thu hút sự tham gia của các ban, ngành và các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện MOP-SEDP. Đoàn cũng đã làm việc với Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tĩnh, tham quan một số mô hình, tổ, nhóm, HTX của huyện Khánh Lộc. Các thành viên trong đoàn đã trực tiếp tham dự lớp tập huấn về nhận thức thị trường và MOP-SEDP tại xã Yên Lộc huyện Can Lộc.


Tập huấn cùng bà con thôn 2 xã An Lộc
Chuyến tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm tại Hà Tĩnh đã mang lại cho Đoàn công tác Tuyên Quang nhiều kiến thức, bài học, kinh nghiệm bổ ích để áp dụng vào quá trình thực hiện MOP-SEDP của tỉnh trong thời gian tới. Trong đó, quan trọng nhất là phải nâng cao được nhận thức về thị trường cho đội ngũ cán bộ các cấp và người dân; chuỗi giá trị, sản phẩm tiềm năng; những quy luật chi phối các mối quan hệ trong nền kinh tế thị trường; những điều kiện về thể chế, cơ chế chính sách, v.v…
Đoàn công tác Tuyên Quang sẽ nghiên cứu để áp dụng các kiến thức, kinh nghiệm từ chuyến tham quan học tập tại tỉnh Hà Tĩnh vào tiến trình thực thi Dự án TNSP nói chung và vào việc thực hiện MOP-SEDP nói riêng.

Đã xuất hiện thành viên nhóm 2

(Từ phải sang trái)
1. Triệu Đức Thông - 3PAD Bắc Kạn (Nhóm trưởng)
2. Dương Hồng Diệp - IMPP Trà Vinh
3. Phương Tiến Mạnh - DBRP Cao Bằng

Bác Lâm vươn lên làm giàu từ chăn nuôi

Bác Lục Văn Lâm xóm Khỉ Cháo xã Lý Quốc huyện Hạ Lang tỉnh Cao Bằng là điển hình về việc phát triển kinh tế hộ, vươn lên làm giàu từ chăn nuôi.
Trước đây, gia đình bác Lâm chăn nuôi lợn tự phát, qui mô nhỏ, 1-2 lứa/ năm, mỗi lứa từ 1-2 con. Thức ăn chăn nuôi chủ yếu là nguồn thức ăn tự có của gia đình, nên hiệu quả kinh tế thấp. Từ năm 2009, Bác Lâm tham gia nhóm sở thích chăn nuôi lợn thịt xóm Khỉ Cháo, được tham gia các lớp tập huấn vay vốn và lớp chăn nuôi thú y, do Dự án IFAD tài trợ được tổ chức tại xã Lý Quốc. Bác đã mạnh dạn vay vốn để tăng đàn và áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào chăn nuôi. Đến nay gia đình bác Lâm có quy trình chăn nuôi riêng, tăng qui mô đàn đến 18 con/lứa và nuôi 3-4 lứa/ năm, mỗi con khi xuất chuồng đạt từ 90 kg – 100 kg. Để chủ động con giống, bác nuôi một con lợn nái. Ngoài ra gia đình bác mỗi ngày sản xuất 2 mẻ đậu phụ, để bán cho bà con quanh xóm, tăng thêm thu nhập và tận dụng được bã đậu làm thức ăn bổ sung cho lợn. Việc chăn nuôi của gia đình bác Lâm có thể nói là đang phát triển, song vẫn còn trong quy mô nhỏ, chưa phát huy được hết tiềm năng sẵn có của mình.
Chia sẻ với chúng tôi, bác có nguyện vọng mong muốn được dự án DBRP hỗ trợ vay vốn với lãi suất thấp để mở rộng chăn nuôi, mua con giống và nâng cấp chuồng trại, cũng như hỗ trợ xây dựng bể biogas cho gia đình, vừa có nhiên liệu làm chất đốt lại vừa góp phần bảo vệ môi trường. (Thảo quản đốc Hạ Lang)
Nguyễn Huệ DBRP Cao Bằng

Bão lại về với người dân nghèo Hà Tĩnh

Đến trưa nay (26/9), bão số 4 một lần nữa đổi hướng. Dự báo, đến gần trưa mai (27/9), vị trí tâm bão nằm trên vùng bờ biển các tỉnh Hà Tĩnh - Thừa Thiên Huế.
Sáng sớm nay (26/9), cơ quan khí tượng phát đi dự báo, tâm bão số 4 sẽ là vùng biển ven bờ Hà Tĩnh - Đà Nẵng. Tuy nhiên, khi vào đến gần bờ, bão số 4 lại tiếp tục thay đổi hướng đi.
Dự báo trong 24 giờ tới, bão di chuyển chủ yếu theo hướng Tây mỗi giờ đi được khoảng 15 km. Đến 10 giờ ngày 27/9, vị trí tâm bão ở vào khoảng 17,0 độ Vĩ Bắc; 107,1 độ Kinh Đông, ngay trên vùng bờ biển các tỉnh Hà Tĩnh - Thừa Thiên Huế. Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão mạnh cấp 8, giật cấp 9, cấp 10.
Một số hình ảnh cứu trợ bão năm 2010 của Dự án IMPP Hà Tĩnh
Người dân phải chèo thuyền ra vùng trung tâm nhận cứu trợ



lũ cao đến 1/2 cổng làng

Người dân Hà Tĩnh vừa mới khôi phục được thiệt hại của cơn bão lịch sử năm 2010 thì lại phải hứng chịu thêm nhiều cơn bảo mới. Mong rằng năm nay bão sẽ nhẹ hơn để bà con nghèo bớt khổ.

Nhóm MTCP Đăk Nông, Gia Lai



Xin giới thiệu với các bạn về nhóm của chúng tôi






  1. Trưởng nhóm: Huỳnh Vĩnh Hương (IFAD Ia Pa Gia Lai).



  2. Nguyễn thị Việt Hà (TW hội nông dân ), thư ký.



  3. Nguyễn Văn Long (3 EM Đăk Nông), chuyên viên.



  4. Phạm Hữu Trí (IFAD Gia Lai), chuyên viên.



Mặc dù mới làm quen nhưng nhóm làm việc rất hiệu quả. Buổi hội thảo đầu tiên chúng tôi thấy rất là thích (Mr Hương). Chúng tôi rất vui khi được làm quen với mọi người, rất mong nhận được sự chia sẻ của các bạn, đặc biệt là anh Bằng và BTC. Hy vọng rằng trong thời gian sắp đến sẽ học được nhiều điều thú vị nữa.

Nhóm IFAD 2 miền




Nhóm IFAD 2 miền gồm 3 thành viên:

1. Chị: Lê Thị Thanh Giang _ Dự án TNSP Tuyên Quang SĐT: 0903252858 (Nhóm trưởng)
2. Chị: Thẩm Thị Loan_ Dự án DPRP Cao Bằng SĐT: 988500811
3. Anh: Nguyễn Đức Khánh_Dự án IMPP Hà Tĩnh SĐT: 097993210

Hỗ trợ phát triển điểm dịch vụ

Dự án phát triển kinh doanh với người nghèo Cao Bằng đã hỗ trợ phát triển điểm dịch vụ thú y tới các xã vùng cao, vùng sâu đặc biệt khó khăn

Nhóm 1 Cao Bằng - Rudec

Nhóm 1 gồm 2 thành viên:
1. Nguyễn Thị Huệ      Cán bộ quản lý tri thức của dự án "Phát triển kinh doanh với người nghèo Cao Bằng"
2. Tạ Văn Tưởng         Trợ lý nghiên cứu Trung tâm Phát triển Nông thôn (Rudec)

Giới thiệu về nhóm

Xin thông báo với mọi người về nhóm chúng tôi tại buổi hội thảo Knowledge Sharing



  1. Trưởng nhóm: Huỳnh Vĩnh Hương (IFAD IaPa Gia Lai)

  2. Thư ký: Nguyễn thị Việt Hà (TW hội Nông dân)

  3. Phạm Hữu Trí (IFAD Gia Lai)

  4. Nguyễn Văn Long (3 EM Đăk Nông)
Nhóm mặc dù mới làm quen nhưng làm việc rất hiệu quả trên tinh thần đoàn kết, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm cho nhau.
Thay mặt nhóm tôi xin cảm ơn anh Phạm Vũ Bằng và BTC. Rất mong nhận được sự chia sẻ từ các bạn, anh Bằng và BTC. Xin chân thành cảm ơn

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2011

Bạn gởi thông điệp này đi, bạn được miễn phí , và UNICEF được 5 ¤

Trước khi vứt bỏ các thức ăn còn sót lại trong chén của bạn , xin bạn hãy nghĩ tới những người đang chết đói !!!
Ở Châu Phi và nhiều nơi khác trên thế giới, có những trẻ em đang chết đói, sau hiệp định được ký kết giữa Unicef và MSN, cho trẻ em đã mất và các trẻ em khác , một chương trình cứu giúp mới bắt đầu .
Bao nhiêu lần bạn gởi mail này đi cho bạn bè , thì bấy nhiêu lần quỹ của Unicef nhận được 5 euros . chúng ta hãy làm cho những trẻ em đang chết này được sống . Chúng ta đừng quên là cứ mỗi giây , thì có một trẻ đang chết vì đói.
Việc này chỉ đáng giá gần 2 phút trong cuộc sống của bạn, nhưng đối với trẻ em Châu Phi , thì điều này chiếm cả đời chúng .

-- Bạn nhận được bài viết này bởi vì bạn đã là thành viên của nhóm "PHATTRIEN CONG DONG". Để chia sẻ thông tin với các thành viên trong nhóm, hãy gửi email đến: phattriencongdong@googlegroups.com


Mô hình tổ hợp tác thành công

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2011

Ban Điều phối Dự án Hỗ trợ Tam nông tỉnh Ninh Thuận

Chào mọi người,
Tôi là Trương Trường Hân công tác tại TNSP Ninh Thuận, rất vui được làm quen với các bạn, chúng ta hãy liên kết và cùng nhau chia sẽ thông tin, tri thức.
Email: truonghanpr@gmail.com
Chào thân ái.

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

Giới thiệu

Xin chào tất cả các bạn, các anh chị thân mến
Tôi là Phạm Hữu Trí, hiện đang công tác tại Ban điều phối dự án IFAD Gia Lai
Rất vui khi đươc làm quen với tất cả các anh chị và các bạn.
Tôi rất sẵn sàng chia sẻ những kinh nghiệm của mình và rất vui khi nhận được chia sẻ của các bạn và các anh chị
Dear all!
Tôi tên là Long , hiện đang công tác tại Ban quản lý Dự án 3EM ,sđt: 0977643427. hy vọng được làm quen với tất cả các anh chị

Đăng bài bằng email

Chào các bạn,

 

Bạn có thể đăng bài mà không cần đăng nhập vào blog, chỉ cần viết email và gửi đến một địa chỉ chọn sẵn. Tôi sẽ rất vui hướng dẫn cụ thể cho bạn tại Hội thảo.

 

Bằng

Welcome to KS Workshop in Viet Nam Blog

Các bạn thân mến!
Trang Blog này được tạo ra để chúng ta chia sẻ các đầu ra của Hội thảo. Do đó, bạn hãy đăng tất cả những ý kiến thảo luận của nhóm mình để chia sẻ với mọi người. Cũng giống như các mạng xã hội khác, blog là một công cụ hết sức hữu hiện để các bạn chia sẻ với người thân, bạn bè những thông tin, hình ảnh hoặc các video clip hay. Mong rằng các bạn sẽ thích thú và tự tin vận dụng công cụ này để tăng cường network của bạn cũng như cải thiện công tác KS của dự án mình.
All the best
Bang